Chương 4
Lâm Lộc cũng quay đầu.
Cô ta nhìn tôi hai giây, rồi hạ mắt xuống.
Không nói gì.
Tôi không nhìn họ, đi thẳng vào tòa.
Phiên xử bắt đầu.
Luật sư của tôi đưa ra nhóm chứng cứ thứ nhất: sao kê ngân hàng, hợp đồng mua nhà, đăng ký xe.
Luật sư phía bên kia lần lượt phản bác.
“Các khoản tiền này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, thuộc phạm vi tặng cho bình thường của ông Chu đối với bên thứ ba, không cấu thành hành vi chuyển dịch trái phép tài sản chung vợ chồng.”
“Ông Chu và cô Lâm là bạn bè nhiều năm, giao dịch kinh tế là việc riêng, không liên quan đến quan hệ hôn nhân.”
Tôi nghe những lời ấy.
Như đang nghe chuyện của người khác.
Như thể hơn bốn triệu chỉ là một tách trà nguội trên bàn, nguội rồi thì đổ đi là xong.
Sau đó luật sư của tôi lấy ra nhóm chứng cứ thứ hai.
Bức thư tay.
“Thư do bị đơn viết cho đứa trẻ chưa chào đời của bà Lâm Lộc, trong đó rõ ràng xưng ‘bố’ ‘mẹ’, đồng thời trong khi chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân với nguyên đơn, đã cùng người thứ ba hoạch định cuộc sống gia đình.”
Chị chiếu bức thư lên màn hình lớn.
“Chúng tôi cho rằng, điều này đã vượt quá phạm vi ngoại tình thông thường, cấu thành yếu tố của quan hệ hôn nhân trên thực tế và căn cứ truy cứu tội trọng hôn.”
Hàng ghế dự thính im lặng trong chốc lát.
Tôi nghiêng đầu.
Chu Nghiên không nhìn màn hình.
Anh cúi đầu, không thấy rõ biểu cảm.
Lâm Lộc đang run.
Cô ta nắm chặt vạt áo, các khớp tay trắng bệch.
Thẩm phán hỏi: “Bị đơn có ý kiến gì đối với các chứng cứ trên không?”
Chu Nghiên đứng lên.
“Không có ý kiến.”
Lâm Lộc kéo tay áo anh.
Anh nhẹ nhàng gỡ ra.
“Bức thư đó,” anh nói, “là tôi viết.”
“Từng chữ trong đó đều là lời thật lòng của tôi.”
Anh quay về phía tôi.
Sáu năm rồi.
Lần đầu tiên trong mắt anh, tôi nhìn thấy một thứ mình không đọc nổi.
Không phải áy náy.
Không phải hối hận.
Mà là một thứ…
Tôi không biết gọi là gì.
Như thể cuối cùng cũng đem bí mật giấu nửa đời ra phơi dưới ánh mặt trời.
“Tiểu Tụng,” anh nói, “có vài chuyện, anh nợ em một lời giải thích.”
Tôi nhìn vào mắt anh.
“Không cần.”
Anh khựng lại.
“Năm năm rồi tôi nghe giải thích,” tôi nói, “trong sao kê ngân hàng, trong ảnh trên vòng bạn bè, trong những khoản chuyển tiền đúng hạn mỗi tháng của anh.”
“Mỗi khoản đều giải thích rất rõ.”
Anh im lặng rất lâu.
Lâu đến mức thẩm phán phải nhắc anh tiếp tục trình bày.
Anh khẽ lắc đầu.
“Tôi không còn gì để nói.”
Phiên tòa tạm nghỉ.
Tôi đứng dậy đi ra ngoài.
Sau lưng có người gọi tên tôi.
Là Lâm Lộc.
Cô ta chạy tới chỗ rẽ hành lang, nắm lấy cổ tay tôi.
Lực rất nhẹ, như sợ làm tôi đau.
“Bà Chu,” cô ta nói, “tôi biết chị hận tôi.”
Tôi không nói gì.
“Bức thư đó,” giọng cô ta rất khẽ, “lúc anh ấy viết, tôi không biết.”
“Là sau này anh lưu trong điện thoại tôi, tôi mới thấy.”
Cô ta cúi đầu.
“Anh ấy chưa từng gọi đứa bé là Niệm Niệm.”
“Đó là biệt danh của tôi.”
Gió lùa dọc hành lang.
Tôi nhìn cô ta.
Mắt cô ta đỏ, nhưng không khóc.
“Tiền anh ấy nợ chị,” cô ta nói, “tôi sẽ trả.”
“Nhà đã nhờ môi giới rồi. Xe cũng bán.”
“Gom được bao nhiêu hay bấy nhiêu.”
Tôi nhìn cô ta.
Ba mươi hai tuổi, trưởng bè cello, bệnh lupus ban đỏ.
Còn hai tháng nữa sẽ làm mẹ.
Cô ta vốn có thể không đuổi theo.
Có thể không lên tiếng, không thừa nhận, không hứa trả tiền.
Cô ta hoàn toàn có thể tiếp tục làm người phụ nữ “không biết gì cả”.
“Cô không trả nổi đâu.” tôi nói.
Cô ta sững lại.
“Căn nhà ba triệu hai trăm nghìn, bán bây giờ cũng chỉ hơn hai triệu.” tôi nói, “xe còn mất giá nhiều hơn.”
“Cô nợ tôi, không chỉ là tiền.”
Cô ta hạ mắt xuống.
“Tôi biết.”
Cuối hành lang, Chu Nghiên đứng đó.
Anh không bước tới.
Chỉ đứng nhìn từ xa.
Tôi nói với Lâm Lộc:
“Lúc anh ấy viết bức thư đó, cô có biết anh ấy viết gì không.”
Cô ta lắc đầu.
“Anh ấy nói điều tốt đẹp nhất đời này là gặp cô.” tôi nói, “anh ấy nói những gì nợ hai người, cả đời này không trả nổi.”
“Anh ấy gọi cô là Niệm Niệm.”
Cô ta sững người.
“Anh ấy chưa từng gọi tôi bằng cái tên đó.”
Tôi rút tay khỏi cổ tay cô ta.
“Cô về nói với anh ấy.”
“Trước khi vụ án có phán quyết, tôi không muốn gặp lại anh ấy.”
Cô ta đứng nguyên tại chỗ.
Tôi quay người, bước vào thang máy.
Trước khi cửa khép lại, tôi thấy cô ta vẫn đứng đó.
Như một bức tượng.
Khoảnh khắc ấy tôi bỗng nghĩ.
Cô ta cũng là người bị lừa.
Chỉ là kẻ lừa cô ta không phải Chu Nghiên.
Mà là giấc mơ Chu Nghiên dựng lên cho cô ta.
8
Ngày bản án được tuyên là đầu tháng Mười Một.
Tòa án xác định Chu Nghiên trong thời kỳ hôn nhân đã duy trì quan hệ không chính đáng lâu dài với người thứ ba là Lâm Lộc, cấu thành lỗi nghiêm trọng.
Trong số bốn triệu một trăm mười hai nghìn chuyển khoản, ba triệu tám trăm nghìn được xác định là chuyển dịch trái phép tài sản chung của vợ chồng, bị buộc hoàn trả toàn bộ.
Căn nhà đó, chiếc xe đó, đều nằm trong danh sách bồi hoàn.
Còn về cáo buộc tội trọng hôn, do phần chứng cứ về việc “chung sống với danh nghĩa vợ chồng” chưa đủ hoàn chỉnh, tòa án không công nhận.
Luật sư hỏi tôi có kháng cáo không.
Tôi lắc đầu.
“Đủ rồi.”
Ba triệu tám trăm nghìn.
Sáu trăm nghìn bố tôi để lại.
Căn nhà cũ bố mẹ anh để lại.
Từng đồng tiền tôi làm thêm đến đêm khuya, công tác đến rạng sáng, không nỡ nghỉ phép suốt tám năm.
Tất cả đều quay về.
Luật sư đưa tôi bản sao phán quyết.
“Bà Chu,” chị nói, “bà là người tôi từng gặp, xử lý vụ án kiểu này gọn gàng nhất.”
Tôi nhận lấy tờ giấy.
“Không phải gọn gàng.”
“Là mệt rồi.”
Chị không nói thêm gì.
Chiều hôm đó, tôi về nhà một chuyến.
Đồ đạc đã dọn xong.
Phòng khách vẫn giữ nguyên như cũ, vỏ sofa chưa thay, trên kệ tivi vẫn đặt ảnh cưới của chúng tôi.
Trong ảnh chúng tôi còn rất trẻ.
Anh mặc áo sơ mi trắng, tôi mặc váy cưới đuôi dài, đứng dưới cây ngân hạnh trước cổng trường đại học.
Cuối tháng Mười, lá vừa kịp vàng rực.
Nhiếp ảnh gia bảo chú rể cười lên.
Anh gượng ra một nụ cười còn khó coi hơn khóc.
Tôi đứng bên cạnh bật cười.
Đó là năm thứ bảy chúng tôi ở bên nhau.
Bảy năm ngứa ngáy, người ta nói vậy.
Chúng tôi đi đăng ký kết hôn.
Ngày tôi đi làm thủ tục sang tên, môi giới hỏi tôi, bán căn nhà này rồi, sau này chị ở đâu.
Tôi nói đi về phía Nam.
Một thành phố nhỏ, gần biển, mùa đông không lạnh.
Cô ấy nhìn tôi một cái, không hỏi thêm.
Căn nhà ở Nam Sơn, Thâm Quyến mà Chu Nghiên xem, tiền trả trước không gom đủ, cuối cùng cũng không mua được.
Tài khoản quỹ công tích của anh sau đó ra sao, tôi không biết.
Cũng không hỏi nữa.
Ngày mười bảy tháng Mười Một, tôi trả lại căn nhà ở kinh thành, chuyển những thùng carton cuối cùng lên xe tải.
Hôm đó gió rất lớn.
Tôi đứng ở cổng khu chờ xe, mũ áo lông bị gió thổi phồng lên.
Một chiếc taxi dừng bên đường.
Cửa mở.
Lâm Lộc bước xuống.
Cô ta gầy hơn một tháng trước.
Áo gió đã đổi thành áo bông dày, cái bụng nhô cao, đi lại phải đỡ eo.
Trong tay cô ta xách một túi giấy kraft.
“Cái này cho chị.”
Tôi không nhận.
“Là gì.”
“Những thứ anh ấy viết.” cô ta hạ mắt xuống, “thư, giấy ghi chú, bản nháp. Tám năm.”
“Lúc dọn nhà tôi tìm thấy. Vứt đi thì tiếc.”
“Chị đốt đi.”
Cô ta không nhúc nhích.
Gió thổi rối tóc cô ta.
“Bà Chu,” cô ta nói, “đứa bé sinh ra, tôi sẽ tự mình nuôi.”
“Sẽ không cho nó mang họ Chu, cũng không để nó nhận bố.”
“Cũng sẽ không tìm anh ấy nữa.”
Tôi nhìn cô ta.
Mắt cô ta không đỏ, giọng cũng rất vững.
Chỉ có các ngón tay vẫn siết chặt miệng túi giấy, siết đến trắng bệch.
“Đó là chuyện giữa cô và anh ấy.” tôi nói.
Cô ta khẽ gật đầu.
“Tôi biết.”
Cô ấy đặt túi giấy xuống cạnh chân tôi.
Rồi quay người, chậm rãi đi về phía chiếc taxi.
Tài xế bước xuống đỡ cô.
Cô ngồi vào ghế sau, không quay đầu lại.
Xe lăn bánh đi.
Tôi đứng nguyên tại chỗ.
Chiếc túi giấy kraft dưới chân bị gió hất tung một góc.
Tôi ngồi xuống, nhét nó vào khe giữa những thùng carton.
Tài xế xe tải bấm còi.
“Cô Chu ơi, đi thôi!”
“Đến đây.”
Tôi đóng cửa thùng xe.
9
Chuyến tàu là chuyến đêm.
Giường nằm cứng, tầng giữa.
Ngày trước khi đi công tác chưa đủ tiền mua vé máy bay, tôi thường nằm loại giường này.
Sau này lên chức giám đốc, quen bay hạng thương gia.
Giờ nằm lại đây, lại thấy hơi xa lạ.
Giường đối diện là một cô gái trẻ, trông như mới tốt nghiệp, nằm sấp trên giường xem phim bằng máy tính bảng.
Cô nhìn tôi một cái rồi cười.
“Chị đi xa một mình à?”
“Ừ.”
“Đi đâu vậy?”
Tôi nói tên một thành phố nhỏ miền Nam.
Cô chớp mắt.
“Đi du lịch à?”
“Định cư.”
Cô “ồ” một tiếng, không hỏi thêm.
Tàu bắt đầu chạy.
Ngoài cửa sổ là những dãy nhà xám xịt ở rìa thành phố, rồi dần thành ruộng đồng, thành núi xa.
Tôi kéo rèm lại.
Không ngủ được.
Bức thư ấy, rốt cuộc tôi vẫn mang theo.
Lúc này nó nằm trong ba lô bên người, cùng hộ chiếu, sổ tiết kiệm, giấy chứng nhận nhà.
Tôi rút ra.
Phong bì giấy kraft, không niêm.
Bên trong là một xấp giấy.
Giấy viết thư, giấy ghi chú, giấy in, cả giấy xé vội từ sổ lò xo.
Nét chữ khác nhau.
Có tờ ngay ngắn, có tờ nguệch ngoạc, có tờ viết đến giữa thì nét chữ bắt đầu nghiêng lệch.
Tôi rút tờ trên cùng.
Ngày tháng ghi: tháng Tư năm 2015.
Anh viết:
“Hôm nay đi ngang tiệm hoa, thấy một chậu hoa nhài.
Chợt nhớ năm cô ấy vừa chuyển vào ký túc xá của tôi, có đặt một chậu ngoài bệ cửa sổ. Cô ấy nói khi nhài nở, cả mùa hè đều thơm.
Sau đó cây chết. Cô ấy không khóc, chỉ nhặt cành khô cất vào ngăn kéo.
Tôi tưởng cô ấy quên rồi.
Hôm nay mới biết, cô ấy vẫn giữ.
Chậu nhài đó, tôi đã không mua.
Mua cho ai đây.
Mua cho cô ấy, cô ấy sẽ không nhận.
Mua cho một người khác, lại không công bằng với người ấy.”
Tôi lật sang tờ thứ hai.
Tháng Mười Một năm 2016.